“NGOẠI TÌNH” – CHỈ LÀ RANH GIỚI ĐẠO ĐỨC HAY CÒN VI PHẠM PHÁP LUẬT

Trước nay khi nhắc tới “ngoại tình” người ta vẫn thường hiểu là việc một người tham gia vào một mối quan hệ tình cảm hoặc tình dục với người khác mà người đó đã kết hôn hoặc một người đã kết hôn mà lại có mối quan hệ tình cảm hoặc tình dục với một người khác. Với cách hiểu này, ngay lập tức có thể thấy được đây là một hành vi đe dọa trực tiếp đến “hôn nhân” – mối quan hệ được xã hội, pháp luật đặc biệt bảo vệ.

Thật phũ phàng khi phải thừa nhận rằng hành vi ngoại tình ngày càng trở nên phổ biến, đa dạng hơn. Đây là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm nghĩa vụ chung thủy trong hôn nhân, đe dọa đến sự ổn định và lành mạnh của các mối quan hệ xã hội.

Trong mối quan hệ hôn nhân, hành vi này gây ra sự đau khổ, mất lòng tin và rạn nứt tình cảm giữa các bên. Nghiêm trọng hơn, nó có thể dẫn đến kết cục ly hôn, gây tổn thương cho con cái. Về mặt xã hội, đây rõ ràng là một sự xúc phạm tiêu chuẩn cộng đồng, cố ý vượt qua ranh giới đạo đức và phá hoại mối quan hệ hôn nhân. Vốn là một hành vi thiếu chuẩn mực, vi phạm đạo đức và bị xã hội lên án, nhưng tại sao nó vẫn tồn tại và trở nên phổ biến như vậy.

Cho đến nay, vẫn không ít người vẫn cho rằng ngoại tình chỉ là một vấn đề về đạo đức. Sự thật thì không chỉ có như vậy.

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Luật hôn nhân và gia đình đã nghiêm cấm hành vi “người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.  Hành vi “chung sống như vợ chồng” được hiểu là việc người đang có vợ/chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ/chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng/vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó.

Như vậy, nếu hành vi ngoại tình đáp ứng các yếu tố của hành vi chung sống như vợ chồng thì đây là hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng. Hành vi này có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015.

Cụ thể, theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP, người có hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

1. “Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Như vậy, người có hành vi ngoại tình có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù lên đến 03 năm.

Trên thực tế đã có những cá nhân bị xử lý hình sự về tội này.

Năm 2018, TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã tuyên Đ và S phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Xử phạt Đ và S 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Nguyên do là bởi Đ (có hôn nhân hợp pháp với chị T) đã có hành vi chung sống như vợ chồng với S. Đ và S đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, cụ thể Đ bị xử phạt hành chính về hành vi “Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác” và S bị xử phạt hành chính về hành vi “Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ”. Sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính Đ và S vẫn tiếp tục chung sống với nhau như vợ chồng. (Tham khảo thêm tại Bản án số 26/2018/HS-ST ngày 18/10/2018 của TAND huyện Chợ Đồn).

Hay vào năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã tuyên bố bị cáo M phạm tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. M đã bị xử phạt 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. (Tham khảo thêm tại Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TAND huyện Đồng Phú).

Trên thực tế, không phải tất cả hành vi ngoại tình đều đáp ứng tình tiết chung sống như vợ chồng. Trong trường hợp này, có thể sẽ không bị xử lý hình sự hoặc xử phạt hành chính theo các quy định pháp luật hiện hành về vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Tuy nhiên, việc ngoại tình lén lút có thể vẫn là căn cứ để yêu cầu ly hôn, yêu cầu phân chia tài sản và quyền nuôi con.

Trước thực trạng ngoại tình hiện nay, bên cạnh việc nhìn nhận lại các giá trị đạo đức, chúng ta cũng cần tuyên truyền, nâng cao hiểu biết về các chế tài pháp lý liên quan đến hành vi này. Để từ đó, đưa mọi thứ về đúng với chuẩn mực vốn có và hiểu rõ rằng hôn nhân là mối liên kết mang tính quy luật tự nhiên nhưng không tách rời khỏi sự điều chỉnh của pháp luật.