CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN VÀ CÔNG TY CỔ PHẦN: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÝ CẦN BIẾT TRƯỚC KHI LỰA CHỌN

Ở Việt Nam hiện nay, Công ty trách nhiệm hữu hạn 02 thành viên trở lên (trong phạm vi bài viết này được gọi tắt là Công ty TNHH) và Công ty Cổ phần (CTCP) là hai loại hình phổ biến và được nhiều nhà đầu tư lựa chọn khi quyết định thành lập công ty.

Theo quy định tại Điều 46 của LDN 2020, Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp: Có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân; Có tư cách pháp nhân; Các thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty; Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng sau khi đáp ứng các trình tự, thủ tục luật định; Được phát hành trái phiếu; Không được phát hành cổ phần (trừ trường hợp để chuyển đổi thành CTCP).

Đối với Công ty Cổ phần, tại Điều 111 của LDN 2020 quy định CTCP là doanh nghiệp mà trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập và không hạn chế số lượng tối đa, cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân; Có tư cách pháp nhân; Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty; Cổ phần được tự do chuyển nhượng (trừ một số trường hợp ngoại lệ); Có thể phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác để huy động vốn.

Trên cơ sở các khái niệm nêu trên, có thể thấy loại hình Công ty TNHH và CTCP có những điểm giống nhau. Đáng chú ý là cả hai loại hình công ty này đều có tư cách pháp nhân và chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn. Đây chính là hai đặc điểm nổi bật, tạo lợi thế cho hai loại hình này, cụ thể:

Về “tư cách pháp nhân”:

  • Pháp nhân là một khái niệm mà pháp luật đưa ra nhằm giảm trách nhiệm cho những người bỏ vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh. Khi pháp nhân được hình thành, nó tách ra khỏi những người đã bỏ tiền để lập nên nó. Với cơ cấu tổ chức rõ ràng, có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm với tài sản đó, pháp nhân có thể nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
  • Công ty TNHH và Công ty Cổ phần sẽ có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Về “chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn”:

  • Trách nhiệm hữu hạn được hiểu là các thành viên góp vốn/cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp.
  • Nói một cách dễ hiểu, một người chỉ dùng một số tiền hay tài sản nào đó nằm trong khối tài sản của mình để góp vốn vào một công ty. Phần tài sản đã dùng để góp vốn sẽ được dùng để đem ra kinh doanh, còn những tài sản khác (nếu có) vẫn để ở nhà. Trong quá trình kinh doanh, nếu vì một lý do gì đó phải bồi thường cho ai thì người đó chỉ mất phần tài sản đã đem ra kinh doanh. Đây được gọi là “trách nhiệm hữu hạn” khi kinh doanh.
  • “Trách nhiệm hữu hạn” là một chế độ giúp bảo vệ cá nhân hoặc tổ chức khi bỏ vốn vào một Công ty TNHH hay CTCP để thực hiện hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, cần phải tách bạch rõ trách nhiệm của người vốn với trách nhiệm của Công ty. Bởi lẽ, công ty thì không được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn, thay vào đó công ty phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ, nghĩa vụ khác của công ty.

 

Mặc dù có những điểm giống nhau, nhưng để quyết định lựa chọn loại hình nào khi đăng ký kinh doanh thì cần phải xem xét đến nhu cầu, mục đích cụ thể của nhà đầu tư. Sau đây sẽ là một vài phân tích về ưu điểm và hạn chế của hai loại hình này để nhà đầu tư có thể xem xét trước khi đưa ra lựa chọn.

Ưu điểm và hạn chế của Công ty TNHH

⇒ Ưu điểm

  • Công ty TNHH có cơ cấu tổ chức quản lý gọn nhẹ, việc quản trị được thực hiện thông qua Hội đồng thành viên, Chủ tịch HĐTV, Giám đốc/Tổng Giám đốc.
  • Vì số lượng thành viên không quá đông, Công ty TNHH thường dễ dàng trong việc quản lý và điều hành. Đặc biệt, đa phần các thành viên trong công ty thường có mối quan hệ thân thiết hoặc quen biết nhau, điều này giúp công ty hạn chế các tình trạng xung đột, mâu thuẫn trong quá trình hoạt động.
  • Mọi hoạt động chuyển nhượng vốn, tăng, giảm vốn góp trong Công ty TNHH đều được ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên công ty. Vì vậy, loại hình công ty này có ưu điểm trong việc kiểm soát sự can thiệp của bên ngoài đối với công ty.

⇒ Hạn chế

  • Công ty TNHH không được phát hành cổ phần (cổ phiếu) để huy động vốn từ công chúng như CTCP. Để huy động vốn, Công ty có thể thực hiện bằng hình thức phát hành các chứng chỉ vay nợ (trái phiếu), vay vốn của các tổ chức hoặc cá nhân, tăng vốn góp.
  • Việc chuyển nhượng phần vốn góp trong Công ty TNHH phải được thực hiện theo đúng trình tự quy định tại Điều 52 của LDN 2020. Theo đó, thành viên muốn chuyển nhượng phần vốn góp phải chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại, sau thời hạn 30 ngày mà các thành viên còn lại không mua hoặc mua không hết thì mới được chào bán ra bên ngoài.

Một điểm đáng chú ý trong loại hình Công ty TNHH đó là không phải ai cũng có thể nhận phần vốn góp của thành viên và mặc nhiên trở thành thành viên của công ty. Trong trường hợp người nhận được phần vốn góp từ việc tặng cho nhưng không phải là người thừa kế theo pháp luật hoặc nhận thanh toán nợ bằng vốn góp thì người này chỉ có thể trở thành thành viên công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận.

  • Giới hạn số lượng thành viên: Pháp luật quy định Công ty TNHH chỉ được có tối đa 50 thành viên góp vốn. Trường hợp nhà đầu tư không muốn bị giới hạn về thành viên góp vốn thì có thể chuyển đổi thành mô hình CTCP hoặc lựa chọn mô hình này ngay từ khi thành lập.

 

Ưu điểm và hạn chế của Công ty Cổ phần

⇒ Ưu điểm

  • CTCP có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu, chứng khoán ra công chúng. Đây là ưu thế nổi bật của CTCP so với các loại hình doanh nghiệp khác, với quyền này công ty có thể dễ dàng và thuận tiện hơn trong việc huy động vốn.
  • CTCP không bị hạn chế số lượng cổ đông, đây cũng chính là ưu điểm đặc biệt, tạo điều kiện cho công ty huy động vốn từ nhiều nguồn.
  • Cổ đông được tự do chuyển nhượng cổ phần (trừ trường hợp ngoại lệ về cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập trong 03 năm đầu thành lập công ty).

⇒ Hạn chế

  • Cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc và trong một số trường hợp phải có Ban kiểm soát hoặc Ủy ban kiểm toán. Cơ cấu quản trị này của CTCP có phần phức tạp và chi phí quản trị cao hơn so với Công ty TNHH.
  • Do quyền quyết định trong CTCP thuộc về Đại hội đồng cổ đông, vì vậy quyền lực có thể bị phân tán và dễ phát sinh mâu thuẫn về lợi ích.

Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định rõ cơ chế pháp lý của Công ty TNHH và Công ty Cổ phần. Công ty TNHH có ưu điểm về tính gọn nhẹ, bảo mật và dễ quản lý, trong khi Công ty Cổ phần lại vượt trội về khả năng huy động vốn và mở rộng quy mô. Việc lựa chọn loại hình nào phụ thuộc vào mục tiêu chiến lược và định hướng phát triển dài hạn của doanh nghiệp.