Sẽ mở trong thẻ mới

NHỮNG TRANH CHẤP PHỔ BIẾN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CÁCH BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỔ ĐÔNG

 

Công ty cổ phần (CTCP) có một đặc điểm quan trọng, đó là vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Với mô hình này, công ty có lợi thế lớn trong việc huy động vốn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều xung đột quản trị phức tạp. Khi quyền sở hữu tách rời quyền điều hành, bất đồng giữa các cổ đông có thể phát sinh nhiều tranh chấp, từ các vi phạm cơ bản về tư cách cổ đông, quyền dự họp cho đến những tranh chấp nghiêm trọng về hiệu lực nghị quyết ĐHĐCĐ hay giao dịch tư lợi của những người quản lý.

Dưới đây là các tranh chấp phổ biến trong CTCP, phần nào giúp người dự định góp vốn cũng như cổ đông hiện hữu sớm nhận diện các rủi ro pháp lý, từ đó chủ động chuẩn bị phương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong suốt quá trình đồng hành cùng doanh nghiệp.

  1. Nhóm tranh chấp về tư cách cổ đông và sở hữu cổ phần

1.1. Tranh chấp về hiệu lực biểu quyết khi cổ đông không thanh toán đủ vốn góp.

Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trong thời hạn này, quyền biểu quyết của cổ đông được tính tương ứng với tổng số cổ phần đăng ký mua ban đầu.

Tranh chấp thường phát sinh khi hết 90 ngày nhưng cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua, trong khi công ty không làm thủ tục điều chỉnh giảm vốn điều lệ và không cập nhật Sổ đăng ký cổ đông. Khi xảy ra mâu thuẫn, nhóm đã góp đủ vốn có thể phủ nhận tư cách của bên vi phạm, đồng thời yêu cầu hủy các nghị quyết được thông qua nhờ số phiếu từ phần cổ phần chưa thanh toán này. Ngược lại, bên chưa góp đủ lại viện dẫn việc tên mình vẫn còn trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp để tiếp tục đòi quyền biểu quyết và chia cổ tức.

Chính vì vậy, việc xác định tư cách cổ đông không thể chỉ căn cứ vào việc một cá nhân có tên trong hồ sơ đăng ký ban đầu hay không. Thay vào đó, cần đồng thời kiểm tra các tài liệu: chứng từ và thời điểm nộp tiền thực tế, Sổ đăng ký cổ đông, hồ sơ đăng ký mua cổ phần, cùng các quy định tại Điều lệ và nghị quyết đã ban hành trong giai đoạn tranh chấp.

1.2. Tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập.

Theo Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, trong 03 năm đầu kể từ ngày thành lập, cổ đông sáng lập chỉ được tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho cổ đông sáng lập khác. Nếu chuyển nhượng cho người ngoài, giao dịch bắt buộc phải có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), và chính cổ đông sáng lập chuyển nhượng không được quyền biểu quyết nội dung này. Tuy nhiên, hạn chế này chỉ áp dụng với số cổ phần đăng ký mua tại thời điểm thành lập, không áp dụng cho cổ phần mà cổ đông sáng lập sở hữu thêm sau này.

Thông thường, tranh chấp sẽ xảy ra khi cổ đông sáng lập tự ý ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần cho nhà đầu tư mới mà bỏ qua thủ tục chấp thuận của ĐHĐCĐ. Sau khi người góp vốn đã thanh toán tiền nhận chuyển nhượng, công ty và các cổ đông sáng lập còn lại từ chối cấp Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần và không cập nhật thông tin người mua vào Sổ đăng ký cổ đông. Điều này có thể phát sinh các tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng, dẫn đến quyền và lợi ích của người góp vốn bị ảnh hưởng do đối mặt với tranh chấp kéo dài.

Do đó, khi giao dịch cổ phần với cổ đông sáng lập, người góp vốn không nên chỉ nhìn vào tư cách của bên chuyển nhượng mà còn phải kiểm tra chính xác nguồn gốc số cổ phần chuyển nhượng, đó là cổ phần sáng lập ban đầu (bị hạn chế chuyển nhượng) hay là cổ phần phát hành thêm sau này (được tự do chuyển nhượng).

1.3. Tranh chấp về quyền thừa kế cổ phần và sự cản trở từ công ty.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020, người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông cá nhân đã chết trở thành cổ đông của công ty tương ứng với số cổ phần nhận thừa kế. Pháp luật không cho phép công ty hay Hội đồng quản trị (HĐQT) tùy tiện đặt thêm rào cản hay điều kiện chấp thuận tư cách này.

Dù vậy, tranh chấp vẫn có thể phát sinh khi các cổ đông còn lại không muốn có sự xuất hiện của người khác trong cơ cấu sở hữu. Công ty có thể cố tình tạo rào cản hành chính bằng cách tự ý ban hành quy chế nội bộ đòi hỏi Hội đồng quản trị (HĐQT) phải thẩm định và phê duyệt tư cách người thừa kế, hoặc cố tình trì hoãn cập nhật Sổ đăng ký cổ đông dù người thừa kế đã cung cấp đầy đủ văn bản phân chia di sản hợp pháp. Tranh chấp này có thể dẫn tới các vụ kiện buộc công ty phải ghi nhận tư cách cổ đông và bồi thường thiệt hại do chậm trễ thực hiện quyền cổ đông.

Vì vậy, người thừa kế cần chủ động chuẩn bị hồ sơ chứng minh quyền thừa kế (văn bản công chứng về việc phân chia di sản hoặc bản án, quyết định giải quyết việc thừa kế đã có hiệu lực pháp luật). Sự hoàn thiện và chặt chẽ của hồ sơ thừa kế là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để người thừa kế bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

 

  1. Tranh chấp trong việc thực hiện quyền biểu quyết tại ĐHĐCĐ và hiệu lực của Nghị quyết.

2.1. Tranh chấp về hành vi xâm phạm quyền dự họp và tính trung thực của kết quả biểu quyết.

Tham dự, phát biểu và biểu quyết tại ĐHĐCĐ là những quyền cơ bản gắn liền với cổ phần phổ thông theo Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020. Tuy nhiên, trên thực tế, nhóm cổ đông chi phối có thể sử dụng các thủ tục hành chính để loại trừ sự hiện diện của nhóm đối lập ngay từ bước triệu tập.

Tranh chấp có thể phát sinh khi công ty cố tình không gửi thông báo mời họp cho cổ đông thiểu số, gửi giấy mời sát ngày họp, gửi đến địa chỉ không chính xác, hoặc từ chối người đại diện theo ủy quyền của cổ đông với những lý do không phù hợp. Nghiêm trọng hơn, nhiều xung đột phát sinh trực tiếp ngay tại cuộc họp khi mà chủ tọa không ghi nhận ý kiến phản đối vào biên bản họp, ngắt lời, hoặc gian lận trong công tác kiểm phiếu để thông qua các chủ trương bất lợi cho nhóm đối lập. Các sai phạm này xâm phạm trực tiếp đến tính hợp pháp của toàn bộ cuộc họp.

Do đó, khi nhận thấy dấu hiệu bị chèn ép, cổ đông không nên tự ý rời khỏi cuộc họp mà cần kiên quyết yêu cầu ghi nhận ý kiến phản đối vào biên bản họp, thu thập các bằng chứng về việc bị cản trở và yêu cầu bàn giao kết quả kiểm phiếu. Đây là những chứng cứ quan trọng giúp cổ đông thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ theo Điều 151 Luật Doanh nghiệp 2020.

2.2. Tranh chấp do nhầm lẫn giữa điều kiện tiến hành cuộc họp và tỷ lệ thông qua nghị quyết.

Theo Điều 145 và Điều 148 Luật Doanh nghiệp 2020, pháp luật phân định rạch ròi hai điều kiện pháp lý độc lập mà các bên thường xuyên nhầm lẫn.

Một là điều kiện để tiến hành cuộc họp, được xác định dựa trên tổng số phiếu biểu quyết của toàn công ty (trên 50% đối với cuộc họp lần thứ nhất, từ 33% trở lên đối với cuộc họp lần thứ hai, và không phụ thuộc vào tỷ lệ tham dự đối với cuộc họp lần thứ ba).

Hai là tỷ lệ thông qua nghị quyết, được xác định  dựa trên tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông thực tế tham dự cuộc họp (trên 50% đối với vấn đề thông thường, và từ 65% trở lên đối với các vấn đề trọng yếu như thay đổi ngành nghề, cơ cấu tổ chức, tổ chức lại công ty hoặc bán tài sản lớn).

Tranh chấp thường nảy sinh từ việc xác định sai cơ sở tính tỷ lệ biểu quyết, đặc biệt tại các cuộc họp lần hai hoặc lần ba. Khi tỷ lệ dự họp thấp, một nhóm cổ đông chỉ nắm giữ lượng cổ phần nhỏ trong toàn công ty (nhưng chiếm đa số trong số những người có mặt) đã thông qua các quyết sách lớn. Nhóm cổ đông vắng mặt sau đó khiếu nại, khởi kiện đòi hủy nghị quyết với lập luận rằng quyết định đó không đại diện cho ý chí của đa số cổ phần công ty. Bên cạnh đó, nhiều cuộc họp cũng có sự vi phạm khi người chủ trì mặc định rằng cuộc họp đã hợp lệ thì mọi nội dung đều chỉ cần trên 50% số phiếu có mặt là đủ, dẫn đến việc thông qua trái luật các quyết định trọng yếu vốn bắt buộc phải đạt ngưỡng phê duyệt tối thiểu từ 65% trở lên.

Căn cứ Điều 151 Luật Doanh nghiệp 2020, pháp luật cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông khởi kiện yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần nghị quyết ĐHĐCĐ nếu có vi phạm nghiêm trọng về trình tự triệu tập họp hoặc nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật, Điều lệ. Khi khởi kiện yêu cầu hủy nghị quyết, cổ đông cần lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, thời hiệu khởi kiện là 90 ngày tính từ ngày nhận được nghị quyết hoặc biên bản họp.

Thứ hai, việc thụ lý đơn kiện không làm đình chỉ hiệu lực của nghị quyết. Do đó, cổ đông khởi kiện cần đồng thời yêu cầu cơ quan tài phán áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời để phong tỏa hiện trạng tài sản, ngăn chặn các tổn thất không thể khắc phục.

 

  1. Nhóm tranh chấp về xung đột lợi ích giữa cổ đông chi phối và cổ đông thiểu số.

3.1. Tranh chấp phát sinh từ hành vi chào bán cổ phần làm suy giảm tỷ lệ sở hữu của cổ đông thiểu số.

Chào bán thêm cổ phần là công cụ gia tăng nguồn vốn, nhưng có thể bị nhóm cổ đông chi phối lạm dụng nhằm làm sụt giảm tỷ lệ sở hữu của cổ đông thiểu số xuống dưới các ngưỡng biểu quyết trọng yếu (dưới 35% để loại bỏ quyền phủ quyết, hoặc dưới 5% để tước quyền tiếp cận hồ sơ, tài liệu).

Mâu thuẫn và tranh chấp nảy sinh khi nhóm cổ đông chi phối thông qua phương án tăng vốn với quy mô lớn, giá phát hành bất hợp lý hoặc thời hạn thanh toán ngặt nghèo để loại bỏ khả năng thực hiện quyền mua của cổ đông nhỏ, đồng thời vi phạm quy định tại Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2020 khi không gửi thông báo quyền ưu tiên mua hoặc tự ý phân phối phần cổ phần chưa bán hết cho các bên liên quan thân hữu với điều kiện thuận lợi hơn so với điều kiện chào bán ban đầu. Hậu quả là quyền tài sản và quyền kiểm soát của cổ đông thiểu số bị suy giảm nghiêm trọng.

Khi đối mặt với nguy cơ bị làm giảm tỷ lệ sở hữu trái luật, để bảo vệ quyền lợi, cổ đông cần nhanh chóng rà soát Nghị quyết ĐHĐCĐ về phương án phát hành và định giá cổ phần mới, chứng từ thông báo quyền mua và quyết định phân phối cổ phần của HĐQT. Các chứng cứ vi phạm thủ tục này là cơ sở trực tiếp để yêu cầu cơ quan tài phán áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đình chỉ đợt chào bán trước khi việc tăng vốn hoàn tất.

3.2. Tranh chấp phát sinh từ việc từ chối quyền kiểm tra tài liệu của cổ đông.

Minh bạch thông tin là biện pháp bảo vệ duy nhất của cổ đông thiểu số trước sự lạm quyền của những người quản lý. Theo khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% cổ phần phổ thông trở lên (hoặc tỷ lệ thấp hơn do Điều lệ ấn định) có quyền xem xét, trích lục biên bản họp HĐQT, báo cáo tài chính và báo cáo của Ban kiểm soát.

Xung đột có thể phát sinh khi Ban giám đốc và HĐQT liên tục từ chối cung cấp hồ sơ, viện lý do bí mật nội bộ để cản trở việc sao chụp hoặc áp đặt các điều kiện bảo mật vô lý nhằm che giấu các quyết định gây thất thoát tài sản. Hành vi này trực tiếp tước bỏ quyền kiểm soát của cổ đông, làm phát sinh các vụ kiện buộc công ty phải giải trình và cung cấp hồ sơ trước cơ quan tài phán.

Dù vậy, ranh giới giữa quyền tiếp cận thông tin của cổ đông và quyền bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp là rất mong manh. Để yêu cầu có giá trị pháp lý và không bị bác bỏ, cổ đông cần gửi văn bản nêu rõ mục đích, viện dẫn chính xác căn cứ sở hữu từ 05% cổ phần và cam kết sử dụng thông tin thuần túy phục vụ quyền lợi của cổ đông theo đúng quy định pháp luật.

 

  1. Tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng, giao dịch với người có liên quan.

Điều 167 Luật Doanh nghiệp 2020 thiết lập cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt đối với các hợp đồng, giao dịch giữa công ty với thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng giám đốc, cổ đông sở hữu trên 10% vốn và những người có liên quan của họ. Tùy thuộc vào giá trị giao dịch (trên hoặc dưới 35% tổng giá trị tài sản), thẩm quyền phê duyệt phải thuộc về ĐHĐCĐ hoặc HĐQT, và bên có lợi ích liên quan không được phép biểu quyết.

Tranh chấp phát sinh khi người quản lý cố tình chia nhỏ giá trị hợp đồng để thay đổi thẩm quyền từ ĐHĐCĐ xuống HĐQT, ký hợp đồng bán rẻ tài sản hoặc ưu đãi dịch vụ cho công ty riêng của gia đình. Khi phát giác các hành vi này, công ty hoặc các cổ đông đối lập có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, buộc các bên hoàn trả tài sản và bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh.

Khi tranh chấp phát sinh, cần lưu ý rằng hợp đồng vi phạm thủ tục không tự động mất hiệu lực mà cần có phán quyết của Tòa án tuyên bố vô hiệu. Căn cứ khoản 4 Điều 167, người khởi kiện không chỉ yêu cầu thu hồi tài sản đã chuyển nhượng trái phép mà còn có quyền buộc người quản lý vi phạm phải liên đới bồi thường thiệt hại và nộp lại toàn bộ lợi nhuận cá nhân đã thu được từ giao dịch về cho công ty.

 

  1. Tranh chấp trong việc yêu cầu công ty mua lại cổ phần và bế tắc về quản trị.

5.1. Tranh chấp về quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần khi thay đổi định hướng hoạt động.

Theo Điều 132 Luật Doanh nghiệp 2020, nếu một cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập) hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ cơ bản của cổ đông quy định tại Điều lệ, cổ đông đó có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Tranh chấp phát sinh thường liên quan đến các vấn đề sau:

Một là thời hạn đưa ra yêu cầu. Cổ đông phải gửi văn bản yêu cầu trong vòng 10 ngày kể từ ngày thông qua nghị quyết. Việc chậm trễ sẽ dẫn đến khả năng cổ đông bị công ty bác bỏ yêu cầu mua lại.

Hai là xung đột về phương pháp định giá cổ phần. Theo khoản 2 Điều 132, cổ phần được mua lại theo giá thị trường hoặc giá xác định theo nguyên tắc của Điều lệ. Tranh chấp thường nảy sinh khi công ty cố tình định giá thấp hoặc trì hoãn việc thỏa thuận. Khi không thống nhất được giá, công ty có nghĩa vụ giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá độc lập để cổ đông lựa chọn. Việc công ty từ chối chỉ định tổ chức thẩm định giá hoặc kéo dài việc thanh toán quá thời hạn 90 ngày luật định là căn cứ để cổ đông khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài.

Ba là xung đột giữa nghĩa vụ mua lại và điều kiện an toàn tài chính. Căn cứ Điều 134 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty chỉ được phép thanh toán cổ phần mua lại nếu sau khi thanh toán vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn. Công ty có thể lợi dụng quy định này để né tránh nghĩa vụ thanh toán.

Khi công ty vi phạm nghĩa vụ mua lại quá thời hạn 90 ngày, cổ đông không thể tự ý rút vốn mà phải chủ động khởi kiện yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài buộc công ty thanh toán tiền mua lại cổ phần kèm tiền lãi chậm trả theo quy định của Bộ luật Dân sự, hoặc tìm kiếm đối tác nhận chuyển nhượng cổ phần phù hợp với quy định của Điều lệ.

5.2. Tranh chấp phát sinh từ tình trạng bế tắc quản trị do cơ cấu sở hữu ngang bằng.

Trường hợp công ty có hai nhóm cổ đông sở hữu tỷ lệ biểu quyết ngang nhau, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng đình trệ hoạt động khi nảy sinh mâu thuẫn. Căn cứ Điều 148 Luật Doanh nghiệp 2020, một nghị quyết của ĐHĐCĐ chỉ được thông qua khi đạt tỷ lệ tán thành trên 50% (đối với vấn đề thông thường) hoặc từ 65% trở lên (đối với vấn đề quan trọng). Do đó, khi các bên không tìm được tiếng nói chung, không một bên nào có đủ số phiếu để tự mình đưa ra quyết định hợp pháp.

Sự bất đồng này làm cho bộ máy công ty không thể vận hành một cách bình thường, khi mà ĐHĐCĐ không thể thông qua các quyết sách lớn, HĐQT không thể bầu Chủ tịch hay bổ nhiệm người đại diện theo pháp luật mới, và hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ngày bị ngưng trệ hoàn toàn.

Mâu thuẫn kéo dài thường biến thành các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại phức tạp tại Tòa án hoặc Trọng tài, vừa tốn kém chi phí, vừa làm tổn hại nghiêm trọng đến tài sản chung của doanh nghiệp. Vì vậy, việc các bên chủ động thỏa thuận trước phương án xử lý bất đồng (như cơ chế một bên mua lại toàn bộ cổ phần của bên còn lại) ngay trong Điều lệ hoặc Thỏa thuận giữa các cổ đông là cách tốt nhất để cứu doanh nghiệp khỏi nguy cơ tự triệt tiêu khi nảy sinh mâu thuẫn.

 

Tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần không đơn thuần là sự bất đồng về định hướng kinh doanh, mà là hệ quả tất yếu từ sự xung đột giữa quyền sở hữu vốn và quyền kiểm soát điều hành khi các quy tắc quản trị chưa được xem xét một cách phù hợp. Một khi đã phát sinh mâu thuẫn, việc đưa vụ việc ra Tòa án hay Trọng tài luôn kéo theo những thiệt hại lớn về thời gian, chi phí tố tụng và sự đình trệ của chính doanh nghiệp. Do đó, trước khi đưa ra quyết định góp vốn, người góp vốn cần tiến hành rà soát kỹ thực trạng pháp lý của công ty, hoàn thiện Điều lệ phù hợp với vị thế của mình và chủ động xác lập các thỏa thuận nội bộ bằng văn bản trước khi chính thức chuyển tiền góp vốn.