QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN LÃI SUẤT CHO VAY VÀ CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CHO VAY LÃI NẶNG

 

Lãi suất là nội dung quan trọng trong quan hệ vay tài sản và cũng là vấn đề thường phát sinh tranh chấp trên thực tế. Để kiểm soát hoạt động cho vay và ngăn chặn hành vi cho vay lãi nặng, pháp luật Việt Nam đã có quy định cụ thể về giới hạn lãi suất cho vay cùng các chế tài dân sự, hành chính và hình sự tương ứng đối với hành vi vi phạm.

  1. Quy định về giới hạn lãi suất cho vay trong giao dịch dân sự

Nguyên tắc tự do thỏa thuận trong giao dịch vay tài sản được pháp luật dân sự Việt Nam tôn trọng. Tuy nhiên, quyền tự do thỏa thuận này bị giới hạn bởi mức trần lãi suất nhằm bảo đảm trật tự công cộng, phòng ngừa tình trạng cho vay lãi nặng và bảo vệ quyền lợi của bên vay.

Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Mức lãi suất 20%/năm nêu trên không áp dụng đối với hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng được điều chỉnh theo pháp luật chuyên ngành như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật về ngân hàng.

  1. Giải quyết tranh chấp trong trường hợp thỏa thuận lãi suất không rõ ràng

Trên thực tế, nhiều giao dịch vay tài sản có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định cụ thể mức lãi suất tại thời điểm giao kết hợp đồng. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ. Theo đó, mức lãi suất áp dụng để giải quyết tranh chấp trong trường hợp này tương ứng là 10%/năm.

Đối với các giao dịch mang tính chất tương trợ dân sự như họ, hụi, biêu, phường, Nghị định 19/2019/NĐ-CP cũng quy định giới hạn lãi suất tương tự. Theo đó, lãi suất trong họ có lãi do các thành viên thỏa thuận hoặc đưa ra để lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ không được vượt quá 20%/năm của tổng giá trị các phần họ phải góp trừ đi giá trị các phần họ đã góp trên thời gian còn lại của dây họ. Trường hợp phần lãi vượt quá giới hạn luật định thì phần vượt quá không có hiệu lực pháp luật.

  1. Chế tài dân sự đối với hành vi cho vay vượt quá giới hạn lãi suất

Khi các bên thỏa thuận mức lãi suất vượt quá giới hạn theo quy định của Bộ luật Dân sự, hậu quả pháp lý được xử lý theo nguyên tắc vô hiệu từng phần.

Cụ thể, chỉ phần thỏa thuận về lãi suất vượt quá mức 20%/năm là không có hiệu lực pháp luật, trong khi hợp đồng vay tài sản vẫn có hiệu lực đối với khoản nợ gốc và phần lãi suất hợp pháp trong giới hạn luật định.

Trong trường hợp bên vay đã thực tế thanh toán khoản lãi vượt quá giới hạn cho phép, pháp luật không công nhận quyền hưởng phần lãi vượt quá giới hạn luật định của bên cho vay. Khoản tiền lãi vượt trần đã nhận sẽ được xử lý theo các hướng sau:

– Bên cho vay phải hoàn trả lại cho bên vay toàn bộ khoản tiền lãi đã nhận vượt quá mức lãi suất hợp pháp.

– Trường hợp bên vay vẫn còn nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, Tòa án có thể khấu trừ khoản lãi vượt trần đã thanh toán vào số tiền nợ gốc chưa thanh toán tại thời điểm giải quyết tranh chấp.

  • Cách xác định lãi trong hạn, lãi chậm trả và lãi quá hạn

Việc xác định các khoản lãi phát sinh khi bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán được thực hiện theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Các khoản nghĩa vụ tài chính phát sinh bao gồm:

– Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả: Được tính theo mức lãi suất vay hợp pháp do các bên thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay nhưng không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay.

– Lãi chậm trả trên nợ lãi: Trường hợp bên vay không thanh toán đúng hạn khoản tiền lãi phát sinh trên nợ gốc thì phải trả lãi chậm trả đối với khoản tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng mức lãi suất tương ứng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

– Lãi quá hạn trên nợ gốc: Khi đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc thì phải chịu lãi quá hạn trên số tiền chậm trả.

Lãi quá hạn được xác định bằng 150% mức lãi suất vay trong hạn theo thỏa thuận hợp pháp của các bên tương ứng với thời gian chậm trả. Do lãi suất vay trong hạn không được vượt quá 20%/năm nên mức lãi quá hạn thực tế tối đa có thể phát sinh là 30%/năm.

  1. Chế tài hành chính đối với hành vi cho vay vượt quá giới hạn lãi suất

Trường hợp chủ thể thực hiện hành vi cho vay với mức lãi suất vượt quá giới hạn theo quy định của Bộ luật Dân sự nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Hiện nay, các hành vi vi phạm này được điều chỉnh tại Nghị định 282/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Theo đó, các hành vi vi phạm bao gồm:

– Kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm d Khoản 4 Điều 15 Nghị định 282/2025/NĐ-CP).

– Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm đ Khoản 4 Điều 15 Nghị định 282/2025/NĐ-CP).

– Lợi dụng việc tổ chức họ, hụi, biêu, phường để cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (điểm a Khoản 3 Điều 19 Nghị định 282/2025/NĐ-CP).

Cá nhân thực hiện các hành vi nêu trên có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Trường hợp tổ chức vi phạm thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt áp dụng đối với cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 282/2025/NĐ-CP.

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực an ninh, trật tự là 01 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện hoặc bị phát hiện theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.

  1. Trách nhiệm hình sự đối với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Khi hành vi cho vay vượt quá giới hạn lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự đạt đến mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội, chủ thể vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Để cấu thành tội phạm này, pháp luật hình sự yêu cầu đồng thời đáp ứng hai nhóm điều kiện cơ bản sau:

(1) Điều kiện về mức lãi suất

Mức lãi suất cho vay thực tế phải gấp từ 05 lần trở lên so với mức lãi suất cao nhất được phép theo Bộ luật Dân sự.

Với giới hạn lãi suất dân sự hiện hành là 20%/năm, mức lãi suất làm phát sinh trách nhiệm hình sự được xác định từ 100%/năm trở lên. Mức này tương đương khoảng từ từ 8,33%/tháng hoặc từ khoảng 0,27%/ngày đối với hình thức vay theo ngày.

Trường hợp tài sản cho vay không phải là tiền thì giá trị tài sản phải được quy đổi thành tiền tại thời điểm giao dịch để làm căn cứ xác định lãi suất thực tế.

(2) Điều kiện về thu lợi bất chính hoặc nhân thân người vi phạm

Ngoài điều kiện về lãi suất, người cho vay còn phải thuộc một trong các trường hợp sau:

– Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên từ hành vi cho vay lãi nặng; hoặc

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; hoặc

– Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà tiếp tục vi phạm.

Trong đó, khoản “thu lợi bất chính” được xác định là phần tiền lãi vượt quá mức lãi suất hợp pháp mà người cho vay thực tế thu được, không phải toàn bộ khoản tiền lãi phát sinh từ giao dịch vay.

Bộ luật Hình sự hiện nay quy định hình phạt áp dụng đối với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:

– Khung 1: Người phạm tội thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng; hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Khung 2: Trường hợp thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng; hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo hướng dẫn của Tòa án tối cao, hình phạt tiền sẽ được xem xét là hình phạt chính. Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, hoạt động dưới hình thức băng, ổ nhóm thì Tòa án sẽ xem xét áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính. Trường hợp hình phạt chính được áp dụng không phải là phạt tiền thì bắt buộc phải xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

 

Có thể thấy, pháp luật Việt Nam hiện hành đã xây dựng cơ chế kiểm soát lãi suất cho vay tương đối toàn diện thông qua các chế tài dân sự, hành chính và hình sự. Việc áp dụng thống nhất các quy định này không chỉ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch vay tài sản mà còn là công cụ quan trọng nhằm phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động cho vay lãi nặng và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.