Trong công ty cổ phần (CTCP), sau khi cổ phần được thanh toán đầy đủ, thông tin người mua được ghi nhận vào Sổ đăng ký cổ đông và quyền sở hữu tài sản góp vốn được chuyển giao, phần vốn góp đó chính thức trở thành tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân, tách biệt hoàn toàn với tài sản của cổ đông. Nhằm bảo đảm nguyên tắc tách biệt tài sản này và duy trì sự ổn định của nguồn vốn doanh nghiệp, khoản 2 Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây gọi là Luật Doanh nghiệp) quy định cổ đông phổ thông không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần.
Như vậy, cổ đông không có quyền đơn phương rút vốn theo ý chí riêng mà chỉ có thể thu hồi vốn hoặc thoái vốn thông qua những cơ chế được pháp luật doanh nghiệp cho phép. Xét theo phương thức thực hiện và nguồn tài sản chi trả, các cơ chế này có thể được phân thành hai nhóm chính:
- Nhóm thứ nhất là các trường hợp cổ đông thu hồi vốn trực tiếp từ công ty trong quá trình hoạt động, bao gồm trường hợp công ty mua lại cổ phần hoặc hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông khi giảm vốn điều lệ.
- Nhóm thứ hai là các trường hợp cổ đông thoái vốn gián tiếp thông qua việc chuyển nhượng cổ phần cho chủ thể khác, hoặc nhận phân chia phần giá trị tài sản còn lại khi công ty chấm dứt hoạt động (giải thể, phá sản).
Nội dung cụ thể và hệ quả pháp lý của từng nhóm cơ chế được phân tích dưới đây.
- Nhóm trường hợp thu hồi vốn trực tiếp từ công ty
Xét dưới góc độ nguồn tài sản chi trả, đây là nhóm cơ chế mà thông qua đó, công ty sử dụng chính tài sản của mình để thanh toán cho cổ đông trên cơ sở mua lại cổ phần hoặc hoàn trả một phần vốn góp trong những trường hợp pháp luật cho phép. Do tài sản được chuyển dịch trực tiếp từ pháp nhân sang cổ đông và kéo theo hệ quả làm giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp, các cơ chế này được đặt dưới những điều kiện kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán của công ty và bảo vệ quyền lợi của chủ nợ.
1.1. Cơ chế mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông
Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông tại Điều 132 Luật Doanh nghiệp là cơ chế bảo vệ cổ đông trong trường hợp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thông qua những quyết định làm thay đổi đáng kể cơ cấu tổ chức của công ty hoặc quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ Công ty. Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần không phát sinh một cách tùy nghi mà chỉ được kích hoạt khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện:
(1) ĐHĐCĐ đã thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc nghị quyết về việc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty; và
(2) Cổ đông yêu cầu phải là người đã trực tiếp biểu quyết không thông qua nghị quyết đó.
Về trình tự thực hiện, cổ đông phản đối bắt buộc phải lập yêu cầu bằng văn bản và gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ĐHĐCĐ thông qua nghị quyết nêu trên. Văn bản yêu cầu phải nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán và lý do yêu cầu công ty mua lại. Công ty phải mua lại cổ phần trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu với mức giá là giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp không thỏa thuận được về giá, các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá định giá, khi đó công ty có trách nhiệm giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn và quyết định lựa chọn của cổ đông là quyết định cuối cùng.
Trong thực tiễn, việc xác định giá mua lại thường là điểm phát sinh tranh chấp gay gắt đối với các CTCP chưa niêm yết. Khi Điều lệ chỉ quy định nguyên tắc chung mà không thiết lập công thức định giá cụ thể, việc xác định giá trị thực tế của cổ phần phụ thuộc rất lớn vào kết quả thẩm định giá và thiện chí thương lượng giữa công ty với cổ đông.
1.2. Cơ chế mua lại cổ phần theo quyết định của công ty
Khác với cơ chế tại Điều 132, việc mua lại cổ phần theo quyết định của công ty quy định tại Điều 133 Luật Doanh nghiệp là cơ chế do chính công ty chủ động quyết định. Công ty có thể sử dụng cơ chế này để điều chỉnh số lượng cổ phần đang lưu hành, tái cấu trúc vốn hoặc phân phối lại một phần nguồn vốn cho cổ đông. Theo quy định này, công ty có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán và một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán.
Về thẩm quyền, Hội đồng quản trị (HĐQT) có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã bán trong thời hạn 12 tháng. Các trường hợp mua lại khác thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.
Giá mua lại cũng chịu những giới hạn khác nhau tùy thuộc loại cổ phần. Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại, trừ trường hợp công ty mua lại cổ phần theo tỷ lệ sở hữu của từng cổ đông. Đối với cổ phần loại khác, nếu Điều lệ công ty không quy định hoặc công ty và cổ đông có liên quan không có thỏa thuận khác thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường.
Trường hợp công ty mua lại cổ phần theo tỷ lệ sở hữu của từng cổ đông, quyết định mua lại phải được thông báo đến tất cả cổ đông trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định được thông qua. Thông báo phải xác định tổng số cổ phần và loại cổ phần được mua lại, giá hoặc nguyên tắc xác định giá, thủ tục và thời hạn thanh toán, cũng như thời hạn để cổ đông thực hiện quyền bán cổ phần cho công ty. Cổ đông đồng ý bán cổ phần phải gửi văn bản chào bán bằng phương thức để bảo đảm đến được công ty trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo. Công ty thực hiện mua lại đối với số cổ phần được cổ đông chào bán trong thời hạn này.
Riêng đối với công ty đại chúng, hoạt động mua lại cổ phiếu của chính mình còn chịu sự điều chỉnh nghiêm ngặt của pháp luật về chứng khoán. Điều 36 Luật Chứng khoán năm 2019 và các văn bản hướng dẫn đã thiết lập những quy định đặc thù về nguồn vốn thực hiện, phương thức giao dịch, nghĩa vụ công bố thông tin và các trường hợp bị cấm mua lại. Do đó, dù cùng bản chất là giao dịch công ty mua lại cổ phần của chính mình, các quy định pháp lý áp dụng cho công ty đại chúng có phạm vi điều chỉnh rộng và khắt khe hơn so với CTCP thông thường.
1.3. Thực hiện quyền hoàn lại đối với cổ phần ưu đãi hoàn lại
Theo khoản 1 Điều 118 Luật Doanh nghiệp, cổ phần ưu đãi hoàn lại là loại cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại và Điều lệ công ty. Cơ chế này tạo ra một ngoại lệ đặc thù so với cổ phần phổ thông, đó là quyền thu hồi vốn của cổ đông không phụ thuộc vào quyết định tổ chức lại công ty (như Điều 132) hay ý chí chủ động của công ty (như Điều 133), mà phát sinh trực tiếp từ chính tính chất ưu đãi gắn liền với loại cổ phần này ngay từ khi phát hành.
Về quyền quản trị, theo khoản 2 và khoản 3 Điều 118 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại có các quyền tài sản tương tự cổ đông phổ thông, nhưng không có quyền biểu quyết, không được dự họp ĐHĐCĐ và không được đề cử người vào HĐQT hay Ban kiểm soát. Quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ của cổ đông ưu đãi hoàn lại chỉ được khôi phục trong hai trường hợp ngoại lệ là:
(1) Khi ĐHĐCĐ họp bàn về việc chuyển đổi cổ phần ưu đãi hoàn lại thành cổ phần phổ thông (khoản 5 Điều 114); hoặc
(2) Khi nghị quyết ĐHĐCĐ có nội dung làm thay đổi bất lợi quyền và nghĩa vụ của chính cổ đông sở hữu loại cổ phần ưu đãi đó. Trong trường hợp thay đổi bất lợi này, căn cứ khoản 6 Điều 148 Luật Doanh nghiệp 2020, nghị quyết chỉ được thông qua nếu được các cổ đông ưu đãi cùng loại sở hữu từ 75% tổng số cổ phần ưu đãi loại đó trở lên tán thành.
1.4. Hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông
Bên cạnh các cơ chế mua lại hoặc hoàn lại cổ phần nêu trên, điểm a khoản 5 Điều 112 Luật Doanh nghiệp còn ghi nhận cơ chế công ty giảm vốn điều lệ thông qua việc hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty. Để thực hiện phương thức này, công ty phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện:
(1) Công ty đã hoạt động kinh doanh từ 02 năm trở lên kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp, không kể thời gian đăng ký tạm ngừng kinh doanh;
(2) Công ty phải bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả vốn cho cổ đông.
Cơ chế này cho phép công ty phân phối lại một phần nguồn vốn cho cổ đông mà không làm thay đổi tỷ lệ sở hữu giữa các cổ đông. Khác với mua lại cổ phần theo Điều 132 hoặc Điều 133, việc hoàn trả vốn theo Điều 112 được thực hiện theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông trong công ty.
- Nhóm trường hợp thoái vốn gián tiếp hoặc nhận tài sản còn lại khi công ty chấm dứt hoạt động
Khác với nhóm thứ nhất, các cơ chế thuộc nhóm thứ hai không làm phát sinh nghĩa vụ của công ty phải trích tài sản để hoàn trả vốn cho cổ đông trong quá trình đang hoạt động kinh doanh bình thường. Thay vào đó, cổ đông thoái vốn thông qua việc chuyển giao quyền sở hữu cổ phần cho chủ thể khác trên thị trường, hoặc nhận phần giá trị tài sản thanh lý còn lại khi pháp nhân chấm dứt tồn tại.
2.1. Chuyển nhượng cổ phần cho chủ thể khác
Trên thực tế, chuyển nhượng cổ phần cho cá nhân, tổ chức khác theo điểm d khoản 1 Điều 115 và Điều 127 Luật Doanh nghiệp là phương thức thoái vốn phổ biến, linh hoạt và ít rào cản thủ tục nhất đối với cổ đông CTCP. Bản chất pháp lý của giao dịch này là sự thay đổi chủ thể sở hữu cổ phần, dòng tiền thanh toán dịch chuyển trực tiếp giữa bên mua và bên bán nằm ngoài khối tài sản của pháp nhân. Do đó, giao dịch chuyển nhượng cổ phần không làm giảm vốn điều lệ và pháp luật cũng không đặt ra điều kiện về khả năng thanh toán nợ của công ty như trường hợp công ty trực tiếp mua lại cổ phần. Theo khoản 7 Điều 127 Luật Doanh nghiệp, công ty có nghĩa vụ đăng ký thay đổi cổ đông trong Sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu của cổ đông có liên quan trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu theo quy định tại Điều lệ công ty.
Mặc dù tự do chuyển nhượng là nguyên tắc cốt lõi của CTCP, quyền này vẫn phải chịu ba giới hạn pháp định và điều lệ sau đây:
- Giới hạn đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (khoản 3, khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp).
Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng nếu chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ (trong đó cổ đông dự định chuyển nhượng không có quyền biểu quyết). Cần lưu ý rằng hạn chế 03 năm này không áp dụng đối với số cổ phần phổ thông mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, cũng như số cổ phần đã được chuyển nhượng hợp pháp cho người khác không phải là cổ đông sáng lập.
- Giới hạn phát sinh từ Điều lệ công ty (khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp).
Pháp luật cho phép Điều lệ công ty quy định các điều kiện hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Tuy nhiên, các hạn chế này chỉ có hiệu lực pháp lý khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. Trường hợp Điều lệ có quy định hạn chế nhưng nội dung đó không được ghi nhận trên cổ phiếu thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng viện dẫn hạn chế đối với giao dịch chuyển nhượng.
- Giới hạn mang tính cấm đoán đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết (khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp).
Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được phép chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác, ngoại trừ hai trường hợp dịch chuyển quyền sở hữu mang tính sự kiện pháp lý khách quan là chuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc thông qua thừa kế.
2.2. Nhận phần giá trị tài sản còn lại khi công ty giải thể hoặc phá sản
Khi công ty chấm dứt sự tồn tại thông qua thủ tục giải thể hoặc phá sản, việc cổ đông nhận lại giá trị tài sản từ công ty không còn mang bản chất của hành vi rút vốn hay thoái vốn thông thường, mà là bước cuối cùng trong quy trình thanh lý và phân chia tài sản của pháp nhân.
Trong trường hợp giải thể, tài sản của công ty được sử dụng để thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản theo trình tự quy định tại Luật Doanh nghiệp. Sau khi thanh toán hết các khoản nợ và chi phí liên quan đến quá trình giải thể, phần tài sản còn lại được phân chia cho các cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần và quyền của từng loại cổ phần, trừ trường hợp Điều lệ hoặc điều kiện của loại cổ phần có quy định khác phù hợp với pháp luật.
Tương tự, trong trường hợp phá sản, theo Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025, tài sản của doanh nghiệp được phân chia theo thứ tự ưu tiên nghiêm ngặt: thanh toán chi phí phá sản; các khoản nợ lương, trợ cấp, bảo hiểm và quyền lợi của người lao động; các khoản nợ phát sinh nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh; nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và các khoản nợ không có bảo đảm (đối với khoản nợ có bảo đảm, việc xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện theo cơ chế riêng, nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán thì phần nợ còn lại mới đưa vào phân chia theo thứ tự chung). Chỉ khi còn dư tài sản sau khi đã hoàn tất các nghĩa vụ trên, cổ đông mới được nhận phần giá trị còn lại.
Như vậy, trong cả hai thủ tục giải thể và phá sản, quyền tài sản của cổ đông là quyền hưởng giá trị thặng dư còn lại sau thanh lý, hoàn toàn không phải là quyền yêu cầu công ty hoàn trả nguyên trạng số vốn góp ban đầu.
- Lưu ý liên quan đến điều kiện thanh toán, xử lý cổ phần mua lại và trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị
Đối với nhóm cơ chế công ty mua lại cổ phần tại Mục 1, việc công ty thông qua quyết định mua lại cổ phần và việc công ty thực tế thanh toán cho cổ đông là hai bước pháp lý khác nhau. Khoản 1 Điều 134 đặt ra điều kiện về khả năng thanh toán trước khi công ty thực hiện việc chi trả. Theo đó, công ty chỉ được thanh toán cổ phần được mua lại nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
Khi việc thanh toán đáp ứng đủ điều kiện và hoàn tất, một loạt hệ quả pháp lý bắt buộc sẽ phát sinh theo khoản 2, 3, 4 Điều 134 và khoản 4 Điều 112 Luật Doanh nghiệp, cụ thể:
- Cổ phần được mua lại được coi là cổ phần chưa bán. Công ty phải làm thủ tục đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác.
- Các cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu cổ phần đã được mua lại phải được tiêu hủy ngay sau khi cổ phần tương ứng được thanh toán đủ. Chủ tịch HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do không tiêu hủy hoặc chậm tiêu hủy cổ phiếu gây ra cho công ty.
- Nếu sau khi thanh toán hết số cổ phần mua lại mà tổng giá trị tài sản ghi trong sổ kế toán của công ty giảm hơn 10%, công ty bắt buộc phải thông báo bằng văn bản cho tất cả chủ nợ biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán.
Trong trường hợp việc thanh toán cổ phần mua lại vi phạm điều kiện bảo đảm thanh toán nợ tại khoản 1 Điều 134, Điều 136 Luật Doanh nghiệp đặt ra cơ chế thu hồi và trách nhiệm bồi hoàn nghiêm khắc. Theo đó, cổ đông đã nhận tiền hoặc tài sản khác phải hoàn trả lại cho công ty, trường hợp cổ đông không hoàn trả được thì tất cả thành viên HĐQT phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số tiền, tài sản đã trả cho cổ đông mà chưa được hoàn lại.
Tóm lại, nguyên tắc không được tự ý rút vốn cổ phần phổ thông là nền tảng để bảo vệ sự toàn vẹn tài sản của CTCP. Pháp luật doanh nghiệp vẫn mở ra các cơ chế thu hồi vốn và thoái vốn cho cổ đông, từ việc công ty mua lại cổ phần, hoàn trả một phần vốn góp, cho đến việc chuyển nhượng cổ phần trên thị trường hoặc nhận tài sản thanh lý khi chấm dứt hoạt động. Tuy nhiên, mỗi cơ chế đều gắn với những điều kiện áp dụng, trình tự thủ tục và hệ quả pháp lý riêng biệt nhằm duy trì sự cân bằng lợi ích giữa cổ đông, pháp nhân và các chủ nợ.
