Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thường phát sinh các khoản phải thu từ hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hợp đồng vay tài sản và các quan hệ pháp lý khác. Trên thực tế, các khoản này cấu thành công nợ phải thu của doanh nghiệp.
Về phương diện pháp lý, các khoản công nợ này được xác lập dựa trên quan hệ nghĩa vụ giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ. Khi nghĩa vụ có nội dung thanh toán một khoản tiền xác định, quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện việc chi trả được xác định là quyền đòi nợ của doanh nghiệp.
Việc xác định đúng bản chất pháp lý của khoản phải thu có ý nghĩa quan trọng trong việc quản trị công nợ, khởi kiện, chuyển giao quyền yêu cầu, sử dụng quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm và xử lý trường hợp bên có nghĩa vụ mất khả năng thanh toán.
- Quyền đòi nợ là quyền tài sản
Theo Điều 105 và Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản bao gồm quyền tài sản, và quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền. Vì vậy, quyền yêu cầu thanh toán một khoản tiền xác định hoặc có thể xác định được có thể được xác định là quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Đối với quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, Điều 14 Nghị định 21/2021/NĐ-CP cho phép bên có quyền sử dụng quyền đòi nợ, khoản phải thu và các quyền yêu cầu thanh toán khác phát sinh từ hợp đồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Do đó, khoản phải thu không chỉ có ý nghĩa về mặt kế toán mà, trong điều kiện pháp luật cho phép, còn có thể trở thành đối tượng của giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu, mua bán quyền tài sản hoặc biện pháp bảo đảm.
Tuy nhiên, “công nợ”, “khoản phải thu” và “quyền đòi nợ” không phải là các thuật ngữ đồng nhất. “Công nợ” là cách gọi phổ biến trong thực tiễn kinh doanh và kế toán; “khoản phải thu” phản ánh khoản doanh nghiệp có quyền thu về; còn “quyền đòi nợ” về phương diện pháp lý là quyền yêu cầu chủ thể có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Khi xử lý một khoản nợ cụ thể, doanh nghiệp cần xác định chính xác quyền đang tồn tại, chủ thể có quyền, chủ thể có nghĩa vụ và căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ.
- Thời hiệu khởi kiện phải được kiểm soát ngay từ khi khoản nợ phát sinh
Đối với tranh chấp hợp đồng, Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Việc xác định thời hiệu trong từng vụ việc phải căn cứ vào nội dung hợp đồng, thời hạn thực hiện nghĩa vụ, thời hạn thanh toán và thời điểm phát sinh hành vi vi phạm nghĩa vụ.
Thời hiệu khởi kiện có thể bắt đầu lại trong các trường hợp quy định tại Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm:
- Bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ;
- Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ;
- Các bên tự hòa giải với nhau.
Thời hiệu bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện làm phát sinh việc bắt đầu lại thời hiệu.
Do đó, việc gửi thư đòi nợ, công văn nhắc nợ hoặc yêu cầu thanh toán không đương nhiên làm bắt đầu lại thời hiệu. Những văn bản này có thể có giá trị chứng cứ về quá trình yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, nhưng việc xác định có xảy ra sự kiện làm bắt đầu lại thời hiệu hay không phải căn cứ vào nội dung và hành vi cụ thể của bên có nghĩa vụ.
Đối với biên bản đối chiếu, xác nhận công nợ, nếu nội dung thể hiện việc bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thì văn bản và hành vi đó có thể là căn cứ xem xét việc bắt đầu lại thời hiệu theo Điều 157 Bộ luật Dân sự.
Theo khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi một bên hoặc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu và yêu cầu đó được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ, việc.
Vì vậy, doanh nghiệp không nên chờ đến khi khoản nợ phát sinh tranh chấp mới kiểm tra thời hiệu khởi kiện. Việc quản lý thời hiệu cần được thực hiện đồng thời với việc theo dõi thời hạn thanh toán và tình trạng thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
- Các phương thức pháp lý để thu hồi công nợ
3.1. Yêu cầu thanh toán và thương lượng
Yêu cầu thanh toán là bước xử lý ban đầu phù hợp đối với khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn. Văn bản yêu cầu thanh toán cần xác định rõ căn cứ phát sinh nghĩa vụ, số tiền gốc, lãi chậm trả nếu có căn cứ pháp lý, thời hạn thanh toán và hậu quả pháp lý trong trường hợp bên có nghĩa vụ tiếp tục vi phạm.
Trường hợp bên có nghĩa vụ có thiện chí nhưng gặp khó khăn về dòng tiền, các bên có thể thỏa thuận gia hạn hoặc phân kỳ thanh toán. Thỏa thuận này nên được lập bằng văn bản và xác định cụ thể số tiền còn phải thanh toán, thời hạn thanh toán mới, phương thức thanh toán và các nghĩa vụ liên quan.
Việc thương lượng hoặc lập biên bản xác nhận công nợ không được mặc nhiên xem là làm thay đổi thời hiệu. Việc xác định thời hiệu phải căn cứ vào các sự kiện pháp lý cụ thể theo Điều 157 Bộ luật Dân sự.
3.2. Khởi kiện tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại
Khi việc thương lượng không đạt được kết quả, doanh nghiệp có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền hoặc yêu cầu trọng tài giải quyết nếu giữa các bên tồn tại thỏa thuận trọng tài hợp lệ.
Tùy thuộc quan hệ pháp luật và căn cứ yêu cầu, doanh nghiệp có thể yêu cầu bên vi phạm thanh toán nợ gốc, tiền lãi chậm trả, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Đối với hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005, mức phạt vi phạm về nguyên tắc không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm theo Điều 301. Lãi do chậm thanh toán được xem xét theo Điều 306 và các quy định có liên quan. Việc yêu cầu bồi thường thiệt hại phải đáp ứng các điều kiện về trách nhiệm bồi thường theo pháp luật áp dụng.
Doanh nghiệp cần phân biệt rõ giữa phạt vi phạm, lãi chậm thanh toán và bồi thường thiệt hại, bởi mỗi chế định có căn cứ phát sinh và điều kiện áp dụng riêng.
- Chuyển giao quyền yêu cầu và mua bán quyền tài sản
Về nguyên tắc, quyền đòi nợ có thể được chuyển giao nếu không thuộc trường hợp pháp luật cấm chuyển giao hoặc các bên có thỏa thuận hạn chế việc chuyển giao.
Theo Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên có quyền có thể chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền. Việc chuyển giao không cần sự đồng ý của bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên, người chuyển giao phải thông báo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ về việc chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Bên có quyền cũng phải cung cấp cho người thế quyền các thông tin cần thiết và chuyển giao giấy tờ có liên quan theo Điều 366 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm, việc chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm cả biện pháp bảo đảm theo Điều 368 Bộ luật Dân sự.
Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định riêng về mua bán quyền tài sản tại Điều 450. Đối với quyền tài sản là quyền đòi nợ, nếu bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán nếu đến hạn mà người mắc nợ không thanh toán.
- Quyền đòi nợ có thể được sử dụng để thế chấp
Quyền đòi nợ, khoản phải thu và quyền yêu cầu thanh toán khác có thể được sử dụng để thế chấp theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Điều 33 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định việc thế chấp bằng quyền đòi nợ, khoản phải thu và quyền yêu cầu thanh toán khác không cần sự đồng ý của người có nghĩa vụ. Người có nghĩa vụ phải được bên nhận thế chấp thông báo để biết trước khi thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định pháp luật.
Quy định này tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp sử dụng các khoản phải thu đủ điều kiện làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ của mình.
Tuy nhiên, việc thế chấp quyền đòi nợ không đồng nghĩa với việc bên nhận thế chấp đương nhiên có quyền trực tiếp thu tiền từ người mắc nợ ngay khi biện pháp thế chấp được xác lập. Quyền của bên nhận thế chấp đối với khoản phải thu và việc thanh toán cho bên nhận thế chấp phải được xác định theo thỏa thuận, quy định về hiệu lực đối kháng và quy định về xử lý tài sản bảo đảm.
- Cơ chế áp dụng đối với trường hợp mất khả năng thanh toán theo Luật Phục hồi, phá sản
Từ ngày 01/03/2026, Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 có hiệu lực và thay thế Luật Phá sản năm 2014, trừ các trường hợp chuyển tiếp được luật quy định.
Theo Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định là mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Theo khoản 1 Điều 38 của Luật này, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần thuộc nhóm chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
Cần phân biệt quyền yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản với quyền yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ hợp đồng. Thủ tục phá sản không phải là một biện pháp cưỡng chế thanh toán riêng cho một khoản nợ mà là một thủ tục tư pháp nhằm xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã theo trình tự luật định.
Do đó, việc sử dụng thủ tục phá sản cần được cân nhắc trên cơ sở tình trạng tài chính của bên có nghĩa vụ, giá trị và tính chất khoản nợ, khả năng thu hồi tài sản cũng như mục tiêu xử lý của chủ nợ.
- Thu hồi nợ phải được thực hiện bằng phương thức pháp luật cho phép
Quyền đòi nợ không đồng nghĩa với quyền tự mình cưỡng chế bên có nghĩa vụ.
Doanh nghiệp có quyền yêu cầu thanh toán, thương lượng, khởi kiện, yêu cầu trọng tài hoặc sử dụng các cơ chế phục hồi, phá sản khi đáp ứng điều kiện luật định. Việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án theo quy định pháp luật.
Ngược lại, việc sử dụng vũ lực, đe dọa, cưỡng ép, giam giữ người hoặc tự ý chiếm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ để buộc thanh toán có thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy thuộc tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi.
Doanh nghiệp cần phân biệt rõ giữa hoạt động tự thu hồi các khoản phải thu phát sinh từ hoạt động kinh doanh của chính mình và hoạt động cung cấp dịch vụ đòi nợ cho bên thứ ba. Việc doanh nghiệp tự thực hiện thu hồi công nợ đối với khách hàng hoặc đối tác là quyền hợp pháp phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ dân sự hoặc thương mại. Ngược lại, kinh doanh dịch vụ đòi nợ cho chủ thể khác là ngành, nghề bị cấm đầu tư kinh doanh theo quy định pháp luật hiện hành. Quy định cấm này không làm hạn chế hoặc loại trừ quyền của doanh nghiệp trong việc yêu cầu khách hàng, đối tác thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đối với các khoản nợ phát sinh từ hoạt động của chính doanh nghiệp.
Thu hồi công nợ là quyền hợp pháp của doanh nghiệp khi đối tác hoặc khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, doanh nghiệp cần xác định đúng căn cứ phát sinh khoản nợ, kiểm soát thời hiệu và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ chứng minh quyền đòi nợ. Tùy từng trường hợp, doanh nghiệp có thể áp dụng biện pháp thương lượng, khởi kiện, trọng tài, chuyển giao quyền yêu cầu, sử dụng quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm hoặc áp dụng thủ tục phục hồi, phá sản theo quy định pháp luật. Việc thu hồi công nợ phải luôn được thực hiện bằng các phương thức pháp luật cho phép, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
