Sẽ mở trong thẻ mới

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP ĐẶC THÙ TRONG PHÂN CHIA DI SẢN

 

  1. Bản chất và nguyên tắc chia thừa kế theo pháp luật

1.1. Định nghĩa về thừa kế theo pháp luật và phân biệt với thừa kế theo di chúc

Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) quy định hai phương thức chuyển dịch di sản là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Nếu thừa kế theo di chúc thể hiện quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản của mình sau khi chết, thì thừa kế theo pháp luật là hình thức thừa kế được xác định căn cứ vào hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định, theo Điều 649 BLDS 2015.

Sự khác biệt cơ bản giữa hai hình thức này nằm ở căn cứ xác lập quyền hưởng di sản và tư cách chủ thể được hưởng thừa kế. Trong thừa kế theo di chúc, người lập di chúc có thể chỉ định cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức hưởng di sản mà không nhất thiết phải có quan hệ thân thích với mình, với điều kiện đáp ứng các quy định pháp luật về hiệu lực của di chúc và người được hưởng di sản. Ngược lại, người thừa kế theo pháp luật phải là cá nhân thuộc các chủ thể được pháp luật xác định tại Điều 651 và các quy định đặc thù tại Điều 653, Điều 654 và Điều 655 BLDS 2015. Các mối quan hệ làm căn cứ xác định diện thừa kế chủ yếu bao gồm quan hệ hôn nhân, huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng được pháp luật công nhận.

Theo Điều 613 BLDS 2015, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống. Đối với trường hợp thai nhi đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế, khoản 1 Điều 660 BLDS 2015 quy định khi phân chia di sản phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để bảo đảm quyền lợi của thai nhi. Nếu đứa trẻ được sinh ra và còn sống thì được hưởng phần di sản đã dành lại, nếu chết trước khi sinh ra thì phần di sản đó được chia cho những người thừa kế khác.

1.2. Phạm vi và các trường hợp áp dụng thừa kế theo pháp luật

Theo Điều 650 BLDS 2015, tùy thuộc vào sự tồn tại và hiệu lực của di chúc, thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với toàn bộ hoặc một phần di sản. Việc xác định phạm vi di sản phải chia theo pháp luật được phân biệt theo hai nhóm trường hợp sau:

(1) Áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản (khoản 1 Điều 650 BLDS 2015).

Cơ chế này phát sinh khi không có di chúc hoặc di chúc hoàn toàn không thể thực hiện được trên thực tế, cụ thể bao gồm 04 trường hợp:

  • Người chết không để lại di chúc;
  • Di chúc không hợp pháp và không có phần nào còn hiệu lực để thực hiện;
  • Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, hoặc cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng di sản không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
  • Những người được chỉ định làm người thừa kế đều không có quyền hưởng di sản theo Điều 621 BLDS 2015 hoặc từ chối nhận di sản theo Điều 620 BLDS 2015.

Cần lưu ý rằng việc một người được chỉ định hưởng di sản chết trước, chết cùng thời điểm với người lập di chúc, không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản không phải lúc nào cũng làm cho toàn bộ di chúc mất hiệu lực. Nếu di chúc có nhiều người được chỉ định hưởng di sản và chỉ một người rơi vào các trường hợp nêu trên thì có thể chỉ phần di sản liên quan đến người đó được chuyển sang chia theo pháp luật.

(2) Áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với một phần di sản (khoản 2 Điều 650 BLDS 2015).

Khi di chúc chỉ có hiệu lực một phần, thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với những phần di sản sau đây:

  • Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
  • Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
  • Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
  • Phần di sản liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Quy định tại Điều 650 BLDS 2015 bảo đảm nguyên tắc tôn trọng ý chí hợp pháp của người lập di chúc, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để áp dụng chế định thừa kế thế vị tại Điều 652. Cụ thể, theo điểm a khoản 2 Điều 643 BLDS 2015, phần di chúc liên quan đến người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc không có hiệu lực pháp luật. Phần di sản tương ứng được chuyển sang chia theo pháp luật theo điểm c khoản 2 Điều 650 BLDS 2015. Khi đó, con (hoặc cháu hoặc chắt) của người được chỉ định hưởng di sản có thể được hưởng thừa kế thế vị nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều 652 BLDS 2015 và các quy định liên quan.

Cần nhấn mạnh rằng trong trường hợp này, người thừa kế thế vị không đương nhiên được hưởng toàn bộ phần di sản được chỉ định trong di chúc. Họ chỉ được hưởng phần di sản mà người được chỉ định hưởng di sản đáng lẽ được hưởng nếu còn sống trong trường hợp chia di sản theo pháp luật. Việc xác định kỷ phần phải căn cứ vào toàn bộ diện và hàng thừa kế theo pháp luật tại thời điểm mở thừa kế.

  1. Diện thừa kế, hàng thừa kế và các quan hệ nhân thân đặc thù

2.1. Thứ tự hàng thừa kế và nguyên tắc phân chia di sản

Trong thừa kế theo pháp luật, diện thừa kế là tập hợp những cá nhân có quan hệ với người để lại di sản và đáp ứng điều kiện hưởng thừa kế theo quy định pháp luật. Những người thuộc diện thừa kế được sắp xếp thành các hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Cụ thể, khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 quy định ba hàng thừa kế như sau:

  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Việc phân chia di sản cho các hàng thừa kế được thực hiện theo hai nguyên tắc cơ bản tại khoản 2 và khoản 3 Điều 651 BLDS 2015, cụ thể gồm:

(1) Nguyên tắc về sự bình đẳng giữa những người thừa kế cùng hàng.

Theo đó, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, không phân biệt giới tính, độ tuổi, thứ bậc sinh thành, con trong giá thú hay ngoài giá thú, con đẻ hay con nuôi. Việc phân chia di sản theo tỷ lệ khác chỉ có giá trị pháp lý khi các đồng thừa kế tự nguyện thống nhất thông qua văn bản thỏa thuận phân chia di sản hợp pháp.

(2) Nguyên tắc ưu tiên theo thứ tự hàng thừa kế.

Theo khoản 3 Điều 651 BLDS 2015, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Theo nguyên tắc này, hàng thừa kế thứ nhất được ưu tiên hưởng di sản trước hàng thứ hai và hàng thứ ba. Khi những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất còn đủ điều kiện hưởng di sản thì những người ở hàng thừa kế thứ hai và thứ ba không được hưởng di sản.

Tuy nhiên, cần phân biệt trường hợp có thừa kế thế vị theo Điều 652 BLDS 2015. Nếu người con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu hoặc chắt có thể được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ mình đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Khi đó, quyền hưởng di sản của người thừa kế thế vị được xác định theo cơ chế đặc thù, không phải là việc chuyển người thừa kế thế vị sang hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba để hưởng một suất riêng.

2.2. Quan hệ thừa kế trong các trường hợp đặc thù

Việc xác định người thừa kế theo pháp luật có thể trở nên phức tạp khi xuất hiện các quan hệ nuôi con nuôi, gia đình tái hôn hoặc tình trạng hôn nhân đang biến động. Các quan hệ này được điều chỉnh cụ thể tại các Điều 653, 654, 655 BLDS 2015, đồng thời được đối chiếu với các quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

(1) Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ .

Theo Điều 653 BLDS 2015, con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 BLDS 2015. Quy định này cho phép người con nuôi vừa có thể hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất của cha mẹ nuôi, vừa có thể giữ quyền thừa kế đối với di sản của cha mẹ đẻ và những người thân thích theo huyết thống. Tuy nhiên, khi áp dụng Điều 653 cần lưu ý hai vấn đều sau:

Thứ nhất, quyền thừa kế này phát sinh trực tiếp giữa con nuôi với cha nuôi, mẹ nuôi, không đương nhiên làm phát sinh quyền thừa kế theo pháp luật giữa con nuôi với cha mẹ đẻ của người nhận nuôi (ông, bà nuôi) hoặc với con đẻ của người nhận nuôi (anh, chị, em nuôi).

Thứ hai, kể từ ngày 01/01/2011, việc nuôi con nuôi bắt buộc phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con (Điều 22 Luật Nuôi con nuôi). Các trường hợp nhận nuôi từ ngày 01/01/2011 trở về sau mà không đăng ký sẽ không làm phát sinh quyền thừa kế theo Điều 653 BLDS 2015.

(2) Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế.

Theo Điều 654 BLDS 2015, con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 BLDS 2015.

Về tiêu chí xác định, việc “chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con” cần được đối chiếu với các quy định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con tại các Điều 69, 70, 71, 72 và Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Những yếu tố có thể được xem xét bao gồm việc yêu thương, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chu cấp chi phí sinh hoạt và học tập, cũng như việc chăm sóc, phụng dưỡng khi bên kia già yếu hoặc không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống. Theo hướng dẫn tại mục 8 Phần III Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 của TANDTC, trường hợp con riêng và bố dượng, mẹ kế không sống chung nhưng vẫn đi lại thăm nom và chi trả tiền để người khác nuôi dưỡng, chăm sóc người kia, chẳng hạn như trả chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc tại cơ sở chăm sóc người cao tuổi hoặc cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, vẫn có thể được coi là có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con để hưởng thừa kế theo Điều 654.

(3) Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng trong các trường hợp đặc thù.

Theo Điều 655 BLDS 2015, quyền hưởng di sản giữa vợ và chồng được bảo đảm trong một số trường hợp đặc thù, kể cả khi tài sản chung đã được phân chia hoặc quan hệ hôn nhân đang trong quá trình giải quyết ly hôn. Cụ thể:

  • Trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được quyền thừa kế di sản của người chết.
  • Trường hợp vợ chồng xin ly hôn mà chưa được Tòa án giải quyết hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án, quyết định nhưng bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản của người chết.
  • Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết vẫn được thừa kế di sản của người đó, kể cả trường hợp sau này người còn sống đã kết hôn với người khác.
  1. Thừa kế thế vị và các đặc trưng pháp lý của thừa kế thế vị

Theo quy định tại Điều 613 BLDS 2015, cá nhân phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai trước thời điểm người để lại di sản chết và sinh ra còn sống mới được xác định là người thừa kế. Vì vậy, khi con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì người con đó không đủ điều kiện trở thành chủ thể hưởng di sản tại thời điểm mở thừa kế. Do đó, nếu chỉ áp dụng nguyên tắc phân chia theo hàng thừa kế thông thường mà không có cơ chế thừa kế thế vị, con của người đã chết có thể không được hưởng phần di sản tương ứng khi vẫn còn những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất khác.

Nhằm bảo vệ quyền lợi của thế hệ sau của người thừa kế, Điều 652 BLDS 2015 quy định về thừa kế thế vị như sau: Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Từ quy định này, có thể xác định bốn đặc trưng pháp lý cơ bản của thừa kế thế vị. Cụ thể:

Thứ nhất, thừa kế thế vị là một trường hợp đặc biệt của thừa kế theo pháp luật, không áp dụng trực tiếp đối với thừa kế theo di chúc. Trường hợp người lập di chúc định đoạt di sản cho con nhưng người con đó chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, phần di chúc liên quan đến người con đó không có hiệu lực pháp luật, phần di sản tương ứng được chuyển sang chia theo pháp luật. Khi đó, con của người được chỉ định hưởng di sản có thể được hưởng thừa kế thế vị nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 652 và các quy định liên quan. Tuy nhiên, người thừa kế thế vị chỉ nhận phần mà cha hoặc mẹ mình đáng lẽ được hưởng theo pháp luật, chứ không đương nhiên nhận toàn bộ phần di sản được định đoạt cho cha hoặc mẹ trong di chúc đã mất hiệu lực đối với phần đó.

Thứ hai, quan hệ thừa kế thế vị được xác lập theo chiều đi xuống trong quan hệ cha mẹ – con – cháu – chắt. Tuy nhiên, không thể đồng nhất thừa kế thế vị với quan hệ huyết thống thuần túy, bởi các Điều 653 và 654 BLDS 2015 còn quy định những trường hợp đặc thù liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi và quan hệ giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế.

Pháp luật không thừa nhận thế vị theo chiều ngược lại, tức cha, mẹ không được thế vị con để hưởng di sản của con. Đồng thời, thừa kế thế vị cũng không được áp dụng theo nhánh bàng hệ. Ví dụ, con của anh, chị, em ruột không được thế vị cha hoặc mẹ mình để hưởng di sản của bác, chú, cậu, cô, dì. Cần phân biệt trường hợp này với quyền hưởng di sản độc lập của cháu ruột thuộc hàng thừa kế thứ ba theo điểm c khoản 1 Điều 651 BLDS 2015, khi người để lại di sản là bác, chú, cậu, cô hoặc dì của người cháu đó. Đây là quyền thừa kế theo hàng thừa kế thứ ba, không phải thừa kế thế vị.

Thứ ba, người thừa kế thế vị không được hưởng di sản với tư cách một người thừa kế độc lập ở hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba đối với phần đang được thế vị, mà được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của họ đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Do đó, tất cả những người cùng thế vị cho một người chỉ được hưởng chung một kỷ phần, tương ứng với phần di sản mà người được thế vị đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Kỷ phần này được chia đều cho những người cùng thế vị, trừ trường hợp có thỏa thuận phân chia hợp pháp khác.

Thứ tư, bản thân người thừa kế thế vị (cháu hoặc chắt) phải đáp ứng điều kiện của người thừa kế theo Điều 613 BLDS 2015. Theo đó, người này phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống. Đồng thời, người thừa kế thế vị không được thuộc các trường hợp không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621 BLDS 2015 đối với người để lại di sản.

 

Thừa kế theo pháp luật và thừa kế thế vị là những chế định quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi của người thừa kế và duy trì sự công bằng trong việc phân chia di sản. Việc áp dụng các quy định này đòi hỏi phải xác định đúng diện, hàng thừa kế, quan hệ nhân thân và điều kiện phát sinh quyền thừa kế, đặc biệt đối với các trường hợp con nuôi, con riêng, bố dượng, mẹ kế và thừa kế thế vị. Vì vậy, cần đối chiếu chặt chẽ quy định của BLDS 2015 với các văn bản pháp luật liên quan và tình tiết cụ thể của từng vụ việc để bảo đảm việc xác định, phân chia di sản đúng pháp luật.

 

Lưu ý: Bài viết được xây dựng nhằm mục đích cung cấp thông tin và tham khảo các quy định pháp luật hiện hành, không có giá trị áp dụng chung cho mọi trường hợp cụ thể. Việc xác định quyền thừa kế và giải quyết tranh chấp thừa kế cần căn cứ vào tình tiết, hồ sơ, tài liệu và chứng cứ của từng vụ việc, cũng như các quy định pháp luật có liên quan.